Lý thuyết sóng Elliott là gì?
Lý thuyết sóng Elliott được phát triển bởi Ralph Nelson Elliott vào những năm 1930 để mô tả sự biến động giá cả trên thị trường tài chính, trong đó ông đã quan sát và xác định các mô hình sóng fractal định kỳ. Thị trường chứng khoán thường được cho là di chuyển ngẫu nhiên, nhưng Elliott tin rằng trên thực tế giá cả được dịch chuyển theo mô hình lặp đi lặp lại. Lý thuyết sóng Elliott trở nên nổi tiếng vào năm 1935 khi Elliott đưa ra dự đoán về đáy thị trường chứng khoán và từ đó trở thành một yếu tố chính cho các trader và các nhà đầu tư phân tích thị trường. Tuy nhiên, Ralph Nelson Elliott cũng lưu ý rằng các mô hình này không cung cấp một thông tin chắc chắn về chuyển động giá trong tương lai, mà chỉ giúp hỗ trợ xác định các xác suất thị trường trong tương lai. Để hiệu quả cao hơn, chúng thường được kết hợp sử dụng với các chỉ báo kỹ thuật khác. Lý thuyết sóng Elliott chỉ ra rằng một thị trường có xu hướng di chuyển theo mô hình sóng 5-3.- Mô hình 5 sóng đầu tiên được gọi là sóng đẩy.
- Mô hình 3 sóng cuối cùng được gọi là sóng điều chỉnh .
Phân loại mô hình sóng Elliott
Sóng đẩy (Impulse Waves)
Trong mô hình sóng đẩy, sóng 1, 3, 5 là sóng tăng, có nghĩa là chúng đi cùng với xu hướng chung, trong khi sóng 2 và 4 là sóng giảm.
Sóng điều chỉnh (Corrective Waves)
Xu hướng 5 sóng đẩy sau đó đảo ngược thành 3 sóng điều chỉnh ABC.




Sóng nằm trong sóng (Mô hình Fractals)
Sóng Elliott có mô hình fractals (phân hình). Mỗi sóng được tạo thành từ nhiều sóng phụ nhỏ hơn.
- Grand Supercycle: nhiều thế kỷ
- Supercycle: khoảng 40–70 năm
- Cycle: 1 năm đến vài năm
- Primary: 1 vài tháng đến một vài năm
- Intermediate: 1 vài tuần đến vài tháng
- Minor: tuần
- Minute: ngày
- Minuette: Giờ
- Sub-Minuette: Phút

3 quy tắc chính của lý thuyết sóng Elliott
Có 3 quy tắc chính trong việc áp dụng lý thuyết sóng Elliott vào giao dịch không bao giờ phá vỡ như sau:- Quy tắc số 1: Sóng 3 KHÔNG BAO GIỜ là sóng đẩy ngắn nhất
- Quy tắc số 2: Sóng 2 KHÔNG BAO GIỜ vượt quá khỏi điểm bắt đầu của sóng 1
- Quy tắc số 3: Đáy của sóng 4 KHÔNG BAO GIỜ vượt qua đỉnh của sóng 1.

- Đôi khi, sóng 5 không di chuyển vượt quá điểm cuối sóng 3. Hiện tượng này gọi là cắt ngắn (truncation).
- Sóng 5 thường xuyên vượt qua đường xu hướng nối điểm bắt đầu của Sóng 3 và 5.
- Sóng 3 có xu hướng rất dài, và mở rộng.
- Sóng 2 và 4 thường xuyên bật ra khỏi các mức thoái lui Fibonacci.
Cách giao dịch forex với sóng Elliott
Cách giao dịch forex sử dụng các nguyên tắc sóng Elliott
Để bắt đầu giao dịch sử dụng lý thuyết sóng Elliott, bạn cần đếm các sóng hình thành. Bạn thấy rằng giá dường như đã chạm đáy và đã bắt đầu một động thái mới đi lên. Bạn xác định bước giá đi lên là sóng 1, bước giá điều chỉnh tiếp theo là sóng 2.
- Quy tắc số 2 : Sóng 2 KHÔNG BAO GIỜ vượt ra khỏi điểm bắt đầu của sóng 1.
- Sóng 2 và 4 thường xuyên bật ra khỏi các mức thoái lui Fibonacci.


Cách giao dịch forex sử dụng các mô hình sóng Elliott



Một số kinh nghiệm giao dịch với sóng Elliott
Giá di chuyển trong sóng đẩy và sóng điều chỉnh

Khi phân tích biểu đồ giá, biết được sóng nào có khả năng đang diễn ra và những đợt sóng gần đây là gì, giúp dự báo giá có thể sẽ tiếp tục biến động như thế nào.
Một sóng đẩy là một động thái giá lớn và có xu hướng liên quan. Một xu hướng tăng tiếp tục đạt đến mức giá cao hơn bởi vì sự tăng giá lớn hơn so với giảm giá xảy ra ở giữa những đợt sóng lớn đó.
Sóng điều chỉnh là sóng nhỏ hơn xảy ra trong một xu hướng.
Giao dịch theo hướng sóng đẩy, bởi vì giá đang thực hiện những bước chuyển lớn nhất theo hướng đó. Sóng đẩy cung cấp một cơ hội tốt hơn để kiếm được lợi nhuận lớn hơn so với sóng điều chỉnh.
Sóng điều chỉnh được sử dụng để tìm cơ hội vào lệnh đón đầu một sóng xung lớn hơn tiếp theo.
BUY trong các đợt sóng điều chỉnh trong xu hướng tăng vì giá sẽ tăng cao hơn. SELL trong các đợt điều chỉnh trong một xu hướng giảm để kiếm lợi từ đợt sóng giảm tiếp theo.
Sóng đẩy và sóng điều chỉnh cũng được sử dụng để xác định khi nào một xu hướng đang thay đổi hướng . Nếu biểu đồ giá cho thấy các bước chuyển lớn lên phía trên, với các sóng điều chỉnh nhỏ ở giữa, và sau đó một động thái giảm lớn hơn nhiều xảy ra, đó là tín hiệu cho thấy xu hướng tăng có thể đã kết thúc.
Nếu xu hướng giảm tạo một sóng lớn, các sóng tăng điều chỉnh nhỏ ở giữa và sau đó có thêm một sóng giảm lớn hơn diễn ra, đó là khi xu hướng giảm đã kết thúc, các nhà giao dịch sẽ tìm cơ hội BUY trong đợt điều chỉnh tiếp theo.
Cấu trúc giá xu hướng và pullback

Theo lý thuyết sóng Elliott khi một xu hướng tăng đang diễn ra, nó thường có ba bước tăng giá lớn, xen kẽ với hai lần điều chỉnh nhỏ. Điều này tạo ra một mô hình năm sóng: đẩy, điều chỉnh, đẩy, điều chỉnh và một sóng đẩy khác.
Sau xu hướng tăng sẽ có một đợt sóng điều chỉnh lớn ABC: một sóng đẩy giảm lớn, một sóng điều chỉnh tăng, và sau đó là một xung lực khác đi xuống. Những sóng này được dán nhãn A, B và C.
Những sóng Elliott này là fractal, có nghĩa là mô hình xảy ra trên các khung thời gian nhỏ và lớn. Ví dụ, sóng đẩy đầu tiên tăng cao hơn trong một xu hướng tăng trên biểu đồ ngày bao gồm năm sóng đẩy nhỏ hơn và 3 sóng điều chỉnh nhỏ hơn trên biểu đồ giờ.
Mẫu fractal này kéo dài hàng thập kỷ, với các phiên bản nhỏ hơn của mẫu sóng thậm chí có thể nhìn thấy trên các biểu đồ một phút hoặc nhỏ hơn.
Sóng điều chỉnh giúp xác định thời điểm tham gia giao dịch dựa vào cấu trúc sóng. Giả sử giá có một xu hướng hình thành một sóng đẩy lớn, thì một sóng điều chỉnh có thể sẽ xảy ra. Sóng điều chỉnh thường sẽ diễn ra theo ba đợt: một đợt giảm, một đợt tăng nhỏ và sau đó là một đợt giảm nữa. Biết được cấu trúc sóng điều chỉnh này, ta có thể tận dụng để tìm cơ hội vào lệnh sau khi sóng điều chỉnh thứ 2 kết thúc.
Tương tự, một khi đã có ba sóng tăng trước đó, xu hướng tăng có thể sắp hoàn thành. Một sóng đẩy sau đó sẽ xác nhận rằng giá có thể sẽ giảm xuống và xu hướng tăng thực sự đã kết thúc. Lúc này có thể tìm cơ hội SELL.
Kích thước sóng điều chỉnh điển hình

Khi BUY trong một sóng điều chỉnh trong một xu hướng tăng hoặc SELL trong một sóng điều chỉnh trong một xu hướng giảm , sẽ rất hữu ích khi biết mức độ điều chỉnh điển hình lớn như thế nào.
Dựa trên mô hình năm sóng, sóng một là sóng đẩy đầu tiên của xu hướng và sóng hai là sóng điều chỉnh đầu tiên. Sóng ba là sóng đẩy, tiếp theo là sóng bốn và sóng năm.
Dựa trên nghiên cứu của Elliott, sóng hai thường bằng 60% chiều dài của sóng một. Nếu sóng 1 tăng 100$, thì sóng 2 có thể sẽ giảm khoảng $60. Nếu giá bắt đầu một xu hướng giảm và sóng một là 200 đô la, thì sự điều chỉnh theo hướng tăng thường là khoảng 120 đô la.
Sóng thứ ba của một xu hướng thường lớn nhất, thường lớn hơn nhiều so với sóng một. Sóng 4 thường bằng 30-40% kích thước của sóng ba. Ví dụ: Nếu sóng ba tăng $300, giá có thể giảm $90 – $120 trong sóng bốn. Trong xu hướng giảm cũng tương tự như vậy.
Kết luận về giao dịch với sóng Elliott
Với lý thuyết sóng Elliott, ta có thể thực hiện giao dịch theo hướng sóng đẩy, và tìm kiếm cơ hội vào lệnh trong các sóng điều chỉnh. Các sóng điều chỉnh có thể không chính xác ở các mức phần trăm nêu trêu, do đó, các nhà giao dịch cần nhạy bén cảm nhận thị trường để giao dịch chính xác.
Khi giao dịch, cần xem xét theo dõi từng sóng trong cấu trúc giá chung. Ví dụ, sau khi một mô hình năm sóng tăng hoàn thành, 3 sóng giảm lớn hơn thường xuất hiện sau đó. Theo dõi hướng của sóng xung sẽ báo hiệu xu hướng thay đổi tiềm năng và tín hiệu đó mạnh hơn nếu được kết hợp bởi mô hình 5 sóng đẩy hoặc kết thúc 3 sóng điều chỉnh.
Bài tiếp theo : Các quy tắc của lý thuyết sóng và cách giao dịch với sóng Elliott

